Cần có luật riêng kiểm soát ô nhiễm nước

Quy định rải rác tại quá nhiều văn bản

Thực tế cho thấy, công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước được quy phạm hóa trong nhiều văn bản pháp luật mà cao nhất là Luật Tài nguyên nước 2012, với quy định về phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt và ứng phó, khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước lưu vực sông; trách nhiệm, thẩm quyền quản lý nhà nước về lưu vực sông. Luật Bảo vệ môi trường 2014 đã quy định rõ hơn về bảo vệ môi trường nước sông, nội dung kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường nước lưu vực sông, đồng thời bổ sung quy định các nguồn thải vào lưu vực sông phải được quản lý phù hợp với sức chịu tải của sông, chất lượng nước sông và trầm tích phải được theo dõi và đánh giá. Nhằm cụ thể hóa quy định của luật, Chính phủ cũng ban hành một số nghị định quan trọng về quản lý lưu vực sông, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản. Hay mới đây, Nghị định 43/2015/NĐ - CP quy định lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước ra đời, góp phần nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với chất lượng nguồn nước.

Thế nhưng, chính vì quy định rải rác trong nhiều loại hình văn bản với hiệu lực pháp lý khác nhau do cơ quan có thẩm quyền khác nhau ban hành nên việc kiểm soát ô nhiễm nguồn nước chưa được giải quyết tận gốc. Theo bà Nguyễn Ngọc Lý - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Môi trường và Cộng đồng, nhiều văn bản pháp luật quan trọng đã đề cập tới kiểm soát ô nhiễm nước, song chỉ là luật khung mang tính nguyên tắc, chưa trở thành một hệ thống nhất trong khi xử lý ô nhiễm nguồn nước đòi hỏi những phương pháp hết sức cụ thể, nên khi áp dụng luật cho từng con sông, con suối, tính hiệu quả không còn nữa. Bên cạnh đó, nói tới kiểm soát ô nhiễm nước là nói tới ba quy trình từ ngăn ngừa, phát hiện tới ngăn chặn, phục hồi xử lý. Trong đó, khâu quan trọng bậc nhất là ngăn ngừa vẫn còn rất yếu, chưa được ghi nhận chi tiết trong các văn bản pháp luật hiện hành, mà nặng về xử lý, phục hồi.

Nhiều chuyên gia nhận định, muốn kiểm soát ô nhiễm nguồn nước hiệu quả, cần có quy định cụ thể về nguồn tài chính, khoa học công nghệ, song đến nay những nội dung này vẫn còn bỏ ngỏ. Mặc dù có hệ thống quan trắc nước rộng khắp các tỉnh nhưng rời rạc, chưa thống nhất, dẫn đến nhiều số liệu thông tin ô nhiễm nước chưa được cập nhật, chưa phát huy vai trò làm chủ của người dân trong việc thực hiện và giám sát chính sách pháp luật về bảo vệ nguồn nước.

Chồng chéo trong quản lý

Không chỉ nằm rải rác trong các văn bản pháp luật, sự thiếu thống nhất, chồng chéo trong phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về lưu vực sông cũng là nguyên nhân khiến công tác quản lý, kiểm soát ô nhiễm nước chưa được thực hiện hiệu quả. Có rất nhiều cơ quan quản lý nước nhưng vẫn thiếu tổ chức chuyên môn chịu trách nhiệm chính về quản lý ô nhiễm, xử lý nước thải.

Bộ Tài nguyên và Môi trường là đơn vị có chức năng xây dựng, ban hành theo thẩm quyền về chỉ tiêu môi trường, quản lý nhà nước về tài nguyên nước (trữ lượng và chất lượng nước), lập quy hoạch quản lý, sử dụng tổng hợp và bảo vệ tài nguyên nước ở các lưu vực sông chính. Bộ Nông nghiệp và PTNT có trách nhiệm quản lý công tác cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản. Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng nước; thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong lĩnh vực duy trì và bảo vệ nguồn nước. Trong khi đó, Bộ Xây dựng có trách nhiệm đối với hoạt động xây dựng kết cấu hạ tầng cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải đô thị; Bộ Công thương chịu trách nhiệm về phát triển, xây dựng, vận hành và quản lý công trình thủy điện; Bộ Y tế quản lý chất lượng nước dùng trong sinh hoạt, nước thải y tế.

Do mỗi Bộ được giao chức năng quản lý nhà nước đối với từng lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội trong đó có các lĩnh vực đan xen, khó có thể tách biệt, nên xảy ra sự chồng chéo về thẩm quyền quản lý là khó tránh khỏi. Mặc dù pháp luật quy định, các bộ, ngành liên quan sẽ phối hợp với nhau trong chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về môi trường nước, tuy nhiên vẫn còn nhiều khoảng trống. Thực tế cho thấy, riêng vấn đề giám sát chất lượng nước, khó khăn và thách thức lớn nhất hiện nay vẫn là thiếu cơ chế phối hợp liên ngành giữa ngành y tế, xây dựng, nông nghiệp, tài nguyên và môi trườâng, dẫn tới nhiều cơ sở cấp nước tập trung bị thanh tra, kiểm tra nhiều lần, trong khi có những cơ sở không được kiểm tra, vừa lãng phí ngân sách nhà nước vừa không đạt hiệu quả. Chưa kể, các ngành khi đánh giá chất lượng nước sử dụng lại có phương pháp xét nghiệm khác nhau dẫn đến kết quả khác nhau. Riêng Bộ Nông nghiệp và PTNT quy định 2 cách đánh giá chất lượng nước sinh hoạt, gồm nước sinh hoạt hợp vệ sinh và nước sinh hoạt đạt quy chuẩn QCVN 02:2009/BYT khiến nhiều địa phương gặp khó khăn khi đánh giá chất lượng nguồn nước.

Nhiều chuyên gia cho rằng, các tổ chức như Hội đồng Quốc gia về Tài nguyên nước, Ủy ban Quản lý quy hoạch lưu vực sông, Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông và Văn phòng lưu vực sông vẫn chưa thực sự phát huy được vai trò của mình, quy chế làm việc thiếu chặt chẽ. Phần lớn thành viên của các tổ chức này làm công tác kiêm nhiệm nên không có nhiều thời gian tập trung cho trách nhiệm được phân công.

Xuất phát từ thực tiễn đó, không ít ý kiến kiến nghị, cần xây dựng một văn bản cụ thể, chuyên biệt, riêng về nội dung này, hệ thống hóa các quy định rải rác thành một văn bản nhất quán, để công tác quản lý kiểm soát, ngăn ngừa ô nhiễm đạt hiệu quả cao hơn. Thực tế, nhiều quốc gia phát triển đã ban hành Luật về kiểm soát ô nhiễm nước từ rất sớm như Mỹ năm 1972, Nhật năm 1970, Trung Quốc năm 1984 hay các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Philippines đều có luật hoặc chế tài cụ thể, chi tiết để kiểm soát ô nhiễm nước.
 

 Phải có lộ trình xây dựng luật

VỤ TRƯỞNG VỤ CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP CHẾ, BỘ TN – MT DƯƠNG THANH AN: Sức ép, yêu cầu từ thực tiễn

Hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến tranh luận về việc có nên xây dựng một luật riêng về kiểm soát ô nhiễm như các nước phát triển trên thế giới hay không? Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là mô hình pháp luật từng nước. Tuy nhiên, với những quy định về bảo vệ môi trường nước nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau như hiện nay, dẫn tới chồng chéo, thiếu thống nhất, cần tính tới xây dựng một luật riêng để kiểm soát, ngăn ngừa ô nhiễm nước đang ngày càng trở nên trầm trọng. Pháp luật luôn lạc hậu hơn so với thực tiễn vận động hàng ngày, hàng giờ do vậy phải tăng cường điều kiện về tổ chức thực hiện, thúc đẩy nghiên cứu, trao đổi mở, hoàn thiện thực thi hệ thống luật hiện hành và các cơ quan tổ chức, nhà khoa học cũng cần chủ động trao đổi, đề xuất xây dựng luật riêng về kiểm soát ô nhiễm nước. Bởi đó là sức ép, là yêu cầu từ thực tiễn, là yếu tố quyết định đối với công cuộc bảo vệ môi trường nước.

NGUYÊN HÀM VỤ TRƯỞNG VỤ PHÁP LUẬT - VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ NGUYỄN THỊ NHƯ MAI: Xây dựng luật cần có lộ trình cụ thể

Dưới góc độ một chuyên gia, nghiên cứu sâu trong lĩnh vực pháp luật và môi trường cũng như tham gia thẩm tra nhiều dự án luật của các bộ, ngành, tôi cho rằng, hiện nay luật mang tính chất khung quá nhiều, dẫn đến các đối tượng điều chỉnh muốn tra cứu cũng rất khó khăn. Ngay cả những người chuyên sâu về pháp luật, ăn luật, ngủ luật nhưng đến khi cần tra cứu nội dung nào đó nằm rải rác trong các văn bản khác nhau cũng không dễ dàng. Cách tiếp cận của Việt Nam hiện nay vẫn là luật chung nhưng dần dần cần tiến tới hình thành luật riêng, điều chỉnh từng lĩnh vực cụ thể. Đơn cử như dưới Luật Bảo vệ môi trường có Luật Tài nguyên nước, Luật Đa dạng sinh học và tiến tới là Luật Tài nguyên, Môi trường biển và hải đảo. Do đó, có một đạo luật riêng về kiểm soát ô nhiễm nước là cần thiết nhưng cần có lộ trình cụ thể, xem xét cách tiếp cận mới, đi từ dưới lên, theo hướng chi tiết, cụ thể, có sự hợp tác của cả cộng đồng trong xây dựng luật, tổng hợp thống nhất nhiều nội dung, chứ không quy định chung chung như hiện nay.

GS.TS TRẦN HIẾU NHỤÊ: Bảo đảm đồng bộ với các luật khác

Nên hay không nên xây dựng Luật về kiểm soát ô nhiễm nước đang là câu hỏi lớn còn nhiều trăn trở. Bởi ở nước ta hiện đã có quá nhiều văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường nước, thường xuyên cập nhật thay đổi từ quy chuẩn, chất lượng tới công tác kiểm soát, xử lý ô nhiễm. Do vậy, Việt Nam nên có một lộ trình cụ thể, trước mắt, cần xây dựng khung kiểm soát ô nhiễm nước ở mức độ trung ương và địa phương, để khắc phục hậu quả ô nhiễm nguồn nước đang ở mức báo động. Trên cơ sở đó, đến năm 2020, nâng lên thành một luật riêng về kiểm soát ô nhiễm nước. Điều quan trọng là đưa vấn đề kiểm soát ô nhiễm nước thành luật đòi hỏi phải có sự thống nhất, đồng bộ với các văn bản pháp luật hiện hành, tránh mẫu thuẫn, chồng chéo, gây rối hệ thống pháp luật.

PGS. TS TRẦN VĂN NAM - TRƯỞNG KHOA LUẬT, ĐH KINH TẾ QUỐC DÂN: Trước mắt, cần hoàn thiện các văn bản dưới luật

Việt Nam có rất nhiều văn bản pháp luật quy định về kiểm soát ô nhiễm nước song hiệu quả rất thấp, khiến người dân không biết triển khai thực hiện ra sao. Do vậy, trước mắt cần tập trung hoàn thiện và xử lý các văn bản dưới luật như nghị định, thông tư rồi mới tính tới việc xây dựng luật riêng về kiểm soát ô nhiễm nguồn nước. Thực tế cho thấy, nhiều nước trên thế giới đã ban hành luật riêng giúp kiểm soát, ngăn ngừa có hiệu quả tình trạng ô nhiễm môi trường nước. Đó cũng là kinh nghiệm để Việt Nam tiến tới xây dựng luật riêng về nội dung này. Tuy nhiên, xây dựng luật là một chuyện nhưng để vận hành, đưa nó vào thực tiễn là điều không dễ dàng.

PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THỦY SẢN - BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT PHẠM ANH TUẤN: Phải tính kỹ khâu tham vấn cộng đồng

Có ý kiến cho rằng, hiện đã có quá nhiều luật quy định về kiểm soát ô nhiễm nước, do vậy chưa cần xây dựng luật riêng về vấn đề này. Rõ ràng luật không thiếu, thậm chí rất nhiều nhưng không đi vào cuộc sống vì chủ yếu là luật khung, mang tính nguyên tắc, thiếu tính cụ thể. Đã tới lúc nước ta phải ban hành luật riêng về kiểm soát ô nhiễm nước, xây dựng luật phải xem xét tính khả thi, bảo đảm không chồng chéo, đặc biệt là tính kỹ khâu tham vấn cộng đồng doanh nghiệp, người dân, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế xung quanh lĩnh vực này. 

Theo báo Đại biểu Nhân dân

Các bài liên quan

Liên minh Vận động Chính sách Ngăn ngừa và Kiểm soát Ô nhiễm nước
Phòng 501 – 502, Nhà E1, Khu ngoại giao đoàn Trung Tự Số 6, Đặng Văn Ngữ, Đống Đa, Hà Nội

Điện Thoại:043-9728 063/064
Website: http://ccw.vn
Copyright © 2013 Liên minh vận động chính sách và kiểm soát ô nhiễm nước - All right reserved