Hiện trạng môi trường nước mặt lục địa: Những thách thức trong công tác quản lý

Quá trình đô thị hóa nhanh làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất, theo đó, các sông, hồ trong các đô thị bị thu hẹp dòng chảy, thậm chí bị lấp hoàn toàn để lấy đất phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng các công trình giao thông, khu dân cư, nhà máy, khu công nghiệp (KCN). Cùng với quá trình đô thị hóa, tăng trưởng và phát triển của các ngành nghề kinh tế với nhu cầu sử dụng nước ngày càng lớn đã và đang gây sức ép đến nguồn nước sử dụng cũng như chất lượng môi trường nước.
 
     Hiện trạng và diễn biến chất lượng nước tại các vùng, miền
Môi trường nước mặt của Việt Nam đã và đang bị ô nhiễm ở nhiều khu vực, thậm chí có xu hướng mở rộng về phạm vi và mức độ ô nhiễm. Tuy nhiên, tùy theo điều kiện tự nhiên đặc thù cũng như trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi vùng miền, các nguồn gây ô nhiễm và hiện trạng môi trường nước mặt ở các miền cũng có những vấn đề khác nhau.

Ở miền Bắc, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Hồng, đây là khu vực tập trung đông dân cư, chịu áp lực mạnh mẽ của gia tăng dân số và quá trình đô thị hóa, cùng với việc phát triển mạnh các ngành kinh tế mũi nhọn, môi trường nước mặt ở nhiều nơi đã bị ô nhiễm. Tại LVS Cầu, mặc dù trong vài năm gần đây, chất lượng nước sông Cầu đã được cải thiện, tuy nhiên, vẫn còn nhiều đoạn sông bị ô nhiễm nghiêm trọng, đó là các đoạn sông chảy qua các khu vực đô thị, KCN và các làng nghề thuộc các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh. Trong đó, sông Ngũ Huyện Khê là một trong những điển hình ô nhiễm nặng từ nhiều năm nay trên LVS Cầu.
     So với các sông khác trong vùng, sông Hồng có mức độ ô nhiễm thấp hơn. Ở khu vực đầu nguồn, khu vực miền núi Đông Bắc (sông Kỳ Cùng, Hiến, Bằng Giang) môi trường nước vẫn còn tương đối tốt. Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, vào mùa khô, môi trường nước sông Hồng tại Lào Cai có hiện tượng ô nhiễm bất thường trong thời gian ngắn (khoảng 3-5 ngày), có thể là do nước thải hoặc ô nhiễm từ đầu nguồn, đoạn chảy qua Phú Thọ và Vĩnh Phúc, môi trường nước bị ô nhiễm tại các khu vực gần các nhà máy, KCN.

Khu vực miền Trung và Tây Nguyên, môi trường nước mặt chịu tác động chủ yếu do nước thải của ngành công nghiệp chế biến: cao su, mía đường, tinh bột sắn, cà phê…, hoạt động chăn nuôi và đặc biệt từ các công trình thủy điện vừa và nhỏ. Tuy nhiên, do mật độ dân cư cũng như các khu vực sản xuất khá thưa nên vấn đề ô nhiễm chỉ mang tính cục bộ, điển hình như ô nhiễm hữu cơ khu vực gần nhà máy đường trên sông Trà Khúc hay sông Kôn đoạn chảy qua khu dân cư; ô nhiễm trên sông Ba vào mùa khô do các sông trong khu vực như sông Hương, Vu Gia, Thu Bồn, Trà Bồng, Trà Khúc.

Môi trường nước mặt tại khu vực Đông Nam bộ chủ yếu bị ô nhiễm là do nước thải công nghiệp và sinh hoạt. Tuy nhiên, vấn đề ô nhiễm chỉ tập trung tại vùng trọng điểm phát triển kinh tế - xã hội phía Nam, nơi có nhiều đô thị và KCN. Hiện nay, có 114 KCN, KCX đang hoạt động tập trung tại 4 tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh và Bà Rịa - Vũng Tàu, trong số đó, có khoảng 30% KCN, KCX chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, chính vì vậy, ô nhiễm nước thải công nghiệp là vấn đề chính ở khu vực này. Bên cạnh đó, khu vực này cũng là nơi có tỷ lệ dân cư sống ở khu vực đô thị cao nhất cả nước (trên 57%). Hiện chỉ có TP. Hồ Chí Minh đã lắp đặt hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tập trung nhưng cũng chỉ đáp ứng được một phần. Ngoài ra, nước thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản, các làng nghề tiểu thủ công nghiệp cũng là nguồn gây ô nhiễm đáng kể đối với vùng này. Trên dòng chính sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, khu vực thượng lưu chất lượng nước còn tương đối tốt nhưng khu vực hạ lưu đã bị ô nhiễm hữu cơ, điển hình như sông Đồng Nai đoạn qua thành phố Biên Hòa (đây là khu vực chịu tác động nặng nhất trên toàn tuyến sông), sông Sài Gòn đoạn qua TP. Hồ Chí Minh. Một vấn đề cũng cần lưu ý đối với sông Sài Gòn, đó là mức độ ô nhiễm bắt đầu có xu hướng mở rộng về phía thượng lưu.
 
Vùng đồng bằng sông Cửu Long có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch phân bố dày đặc. Chất lượng nước mặt khu vực này còn khá tốt, trừ một số kênh rạch nội đồng có dấu hiệu bị ô nhiễm dinh dưỡng, điển hình là khu vực hạ lưu sông Tiền, sông Hậu (mức độ ô nhiễm trên sông Tiền cao hơn sông Hậu). Nguyên nhân chính là do bị ảnh hưởng bởi nước thải phát sinh từ hoạt động nuôi trồng, chế biến thủy sản và sử dụng phân bón hóa học trong nông nghiệp. Tuy nhiên, vấn đề ô nhiễm chỉ xảy ra cục bộ tại một số khu vực và cũng nhanh chóng được pha loãng do lưu lượng chảy trên sông thường ở mức cao nên đã làm giảm mức độ ô nhiễm trên diện rộng.

Một vấn đề nổi cộm ở khu vực này là hiện tượng xâm nhập mặn do chịu ảnh hưởng mạnh của chế độ thủy triều tại biển Đông và vịnh Thái Lan. Độ mặn trên sông Hậu tăng cao vào những tháng giữa và cuối mùa kiệt.

Các sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây cũng đang bị ảnh hưởng từ hoạt động của các nhà máy, khu dân cư, hoạt động tháo chua rửa phèn trong sản xuất nông nghiệp. Tại một số khu vực trên sông Vàm Cỏ Đông, đã bị ô nhiễm vi sinh ở mức cao. Tuy nhiên, khả năng tự làm sạch của các con sông này khá tốt nên ngoài các điểm gần cống xả nước thải, chất lượng nước nhìn chung vẫn đạt quy chuẩn cho phép.
 
     Những thách thức và giải pháp trong công tác quản lý môi trường nước tại các vùng
Trong thời gian qua, công tác quản lý và BVMT nước mặt luôn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, nhận được rất nhiều sự quan tâm của các cấp từ Trung ương đến địa phương. Điều đó được thể hiện qua hàng loạt các chính sách, văn bản đã được ban hành; việc tổ chức và phân công trách nhiệm quản lý môi trường nước từ cấp Trung ương đến địa phương; việc triển khai xây dựng và thực hiện các quy hoạch LVS; tăng cường thực hiện công tác ĐTM, cấp phép xả nước thải, thanh tra, kiểm tra và quan trắc môi trường nước; xây dựng nguồn lực, tăng cường sự tham gia của cộng đồng và các vấn đề về hợp tác quốc tế trong quản lý môi trường nước.

Tuy nhiên, với những áp lực và hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường nước nêu trên, có thể thấy, công tác quản lý môi trường nước đang đứng trước những thách thức lớn. Việc ban hành các định hướng, chiến lược và các văn bản quy phạm pháp luật đã tạo hành lang pháp lý cho công tác quản lý nhưng các quy định vẫn chưa đầy đủ và còn chồng chéo trong hệ thống văn bản (ví dụ như vấn đề cấp phép, kiểm soát nguồn thải), tính thực thi của một số văn bản còn thấp, chưa sát với tình hình thực tế. Ở cấp địa phương, công tác triển khai thực thi các văn bản còn chậm và không triệt để, điển hình như quy định về cấp phép, xử lý vi phạm hành chính đối với ô nhiễm môi trường nước tại một số địa phương.
Hệ thống tổ chức quản lý môi trường nước, phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về LVS còn chưa thống nhất, vẫn tồn tại sự chồng chéo về trách nhiệm giữa Bộ TN&MT với Bộ NN&PTNT và một số Bộ /ngành khác. Các tổ chức đã được thành lập như Hội đồng quốc gia về Tài nguyên nước, Ủy ban quản lý quy hoạch LVS hay các Ủy ban BVMT LVS chưa thực sự phát huy vai trò. Thêm vào đó, phần lớn Ban chỉ đạo và các thành viên làm công tác kiêm nhiệm nên không có nhiều thời gian tập trung cho trách nhiệm được phân công.

Về thực hiện quy hoạch các LVS, mặc dù bước đầu đã xây dựng quy hoạch môi trường nước LVS và quy hoạch khai thác, sử dụng BVMT nước của địa phương, tuy nhiên, việc triển khai các quy hoạch LVS còn chậm, thiếu một quy hoạch tổng thể, thiếu các quy hoạch phân vùng, quy hoạch sử dụng nước của các ngành còn chồng chéo, cùng với việc thiếu một tổ chức đủ mạnh để điều phối hoạt động trên toàn lưu vực nên khi phát sinh các vấn đề liên tỉnh, liên ngành đều gặp rất nhiều khó khăn khi giải quyết.
    
Việc triển khai áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường nước mặc dù cũng đã thu được nhiều kết quả tốt nhưng vẫn còn những hạn chế, khó khăn. Đó là vấn đề thu phí nước thải công nghiệp còn bị phụ thuộc vào tính trung thực, tự giác của doanh nghiệp khi kê khai, đơn vị quản lý thiếu cơ sở để tính toán lượng nước thải thực tế, mức thu thấp… Đối với các quy định về xử phạt vi phạm hành chính, mặc dù đã được thắt chặt thông qua việc nâng mức phạt và quy định chi tiết hơn về hành vi vi phạm nhưng việc xác định mức độ vi phạm còn gặp nhiều khó khăn do hạn chế về nhân lực và trang thiết bị.
    
Ngoài ra, công tác thanh tra, kiểm tra và quan trắc môi trường chưa phát huy được hết vai trò do nguồn lực chưa đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng; sự tham gia của cộng đồng trong quản lý và BVMT nước còn hạn chế; các hoạt động hợp tác quốc tế thiếu tính bền vững và hiệu quả sau khi kết thúc các dự án, chương trình…
    
Từ những thách thức trong công tác quản lý và BVMT nước, cần xem xét các vấn đề để có những chính sách, giải pháp phù hợp nhằm từng bước giải quyết, khắc phục vấn đề môi trường nước ở mỗi vùng miền.
    
Những giải pháp chung cần được xem xét bao gồm: Rà soát, bổ sung và hoàn thiện chính sách pháp luật và thể chế về BVMT nước; Điều chỉnh phân công phân nhiệm, củng cố tổ chức quản lý nhà nước về BVMT nước; Xây dựng và triển khai thực hiện Quy hoạch LVS, quy hoạch phân vùng khai thác sử dụng nước; Tăng cường các hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật về BVMT nước; Áp dụng các công cụ kinh tế, giải pháp khoa học công nghệ trong BVMT nước; Sự tham gia và trách nhiệm của cộng đồng trong quản lý và BVMT nước; Thúc đẩy các hoạt động hợp tác quốc tế trong quản lý và BVMT nước, đặc biệt đối với vấn đề xuyên biên giới.
    
Bên cạnh đó là, các giải pháp cụ thể cho từng vùng miền:
    
  • Đối với các LVS miền Bắc: Kiểm soát chặt các khu vực ô nhiễm nghiêm trọng; tập trung các biện pháp xử lý nước thải công nghiệp và làng nghề tại các LVS; đẩy mạnh việc xây dựng và vận hành hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tại các đô thị lớn: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh;    
  • Đối với các LVS miền Trung và Tây Nguyên: Xem xét một cách nghiêm túc và đầy đủ về các dự án thủy điện, khai thác khoáng sản đã, đang và sẽ thực hiện tại khu vực; hình thành quy trình vận hành hồ chứa;
  • Đối với các LVS miền Đông Nam bộ: Tập trung xử lý nước thải công nghiệp tại các tỉnh: TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu; 
  • Đối với các LVS vùng đồng bằng sông Cửu Long: Tăng cường giám sát các hoạt động nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.
 Nguồn Tạp chí Môi trường
 
 

Các bài liên quan

Liên minh Vận động Chính sách Ngăn ngừa và Kiểm soát Ô nhiễm nước
Phòng 501 – 502, Nhà E1, Khu ngoại giao đoàn Trung Tự Số 6, Đặng Văn Ngữ, Đống Đa, Hà Nội

Điện Thoại:043-9728 063/064
Website: http://ccw.vn
Copyright © 2013 Liên minh vận động chính sách và kiểm soát ô nhiễm nước - All right reserved