Kiểm soát ô nhiễm nước tại Việt Nam: Cơ hội và thách thức

Nhìn lại sau 20 năm thực hiện Luật BVMT (Quốc hội thông qua Luật BVMT lần đầu tiên vào năm 1993, sau đó đã sửa đổi, bổ sung và thay thế bằng Luật BVMT năm 2005 và hiện nay - Kỳ họp thứ 7 Quốc hội Khóa XI đang thảo luận về Dự thảo Luật BVMT mới), công tác BVMT nói chung và kiểm soát ô nhiễm nước nói riêng đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Luật BVMT và các văn bản dưới Luật đã xây dựng tương đối đầy đủ hệ thống các văn bản, quy định về BVMT, trong đó có các quy định về ngăn ngừa, phòng chống ô nhiễm nước. Năm 1998, Quốc hội ban hành Luật Tài nguyên nước và được sửa đổi, bổ sung vào năm 2012.

CƠ HỘI

          Để triển khai hiệu quả Luật BVMT và Luật Tài nguyên nước, hệ thống các văn bản dưới Luật đã được ban hành, áp dụng và bổ sung cho phù hợp với điều kiện thực tế như các quy định về lập và thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), cam kết BVMT; giấy phép sử dụng và khai thác nguồn nước, giấy phép xả nước thải vào nguồn nước; quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với nước thải, nước mặt, nước sử dụng cho các mục đích khác; phí BVMT đối với nước thải; xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT… Bên cạnh đó có các Luật, Pháp lệnh khác của Nhà nước liên quan đến BVMT nước như Luật Hóa chất; Luật Phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai; Luật Bảo vệ và Kiểm dịch Thực vật; Pháp lệnh Thú y; Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình thủy lợi...
         Nhận thấy rõ tầm quan trọng của công tác BVMT, Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị quyết, Chỉ thị nhằm ngăn chặn nguy cơ ô nhiễm và BVMT, BVMT nước thể hiện trong Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT; Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

     Bên cạnh đó, sự tham gia của nhiều ngành trong công tác BVMT, kiểm soát ô nhiễm môi trường nước cũng là một bước tiến quan trọng. Bộ TN&MT được phân công là đầu mối, chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về BVMT; Bộ NN&PTNT chịu trách nhiệm về BVMT đối với việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, nuôi trồng thủy sản và BVMT trong sản xuất nông nghiệp; Bộ Xây dựng có trách nhiệm đối với các hoạt động xây dựng kết cấu hạ tầng cấp thoát nước, xử lý nước thải và chất thải rắn đô thị, khu sản xuất dịch vụ tập trung; Bộ Y tế có trách nhiệm đối với chất thải y tế, hoạt động của các cơ sở y tế...

          Để đáp ứng công việc được giao, năng lực của cán bộ thuộc cơ quan quản lý môi trường tại cấp Trung ương (Bộ TN&MT, Bộ NN&PTNT, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng và các Bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội có liên quan) và các địa phương không ngừng được tăng cường cả về chất lượng và số lượng.

         Đối với công tác kiểm soát ô nhiễm nước, thông qua các công cụ luật pháp, chính sách về kiểm soát ô nhiễm nước như ĐTM, quan trắc định kỳ, cấp phép xả thải, kê khai và đóng phí BVMT đối với nước thải…, các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường đã từng bước quản lý được các nguồn thải (số lượng nguồn thải, số lượng nước thải, thành phần và hàm lượng các chất ô nhiễm trong nước thải).

           Các nguồn gây ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm môi trường nước nói riêng (khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu đô thị, khu chôn lấp chất thải, bệnh viện, làng nghề...) đã được xác định và tăng cường kiểm soát. Đến nay, quy hoạch phát triển khu công nghiệp bao gồm 283 khu, trong đó 194 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động, có 148 khu công nghiệp (chiếm 76%) đã xây dựng và vận hành hệ thống thu gom và xử lý nước thải theo quy định với tổng công suất thiết kế trên 600.000 m3/ngày đêm. Bên cạnh đó, thực hiện Quyết định số 2038/QĐ-TTg ngày 15/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020, ngành Y tế cũng đã tập trung xây dựng mới, cải tạo hệ thống xử lý chất thải nói chung và nước thải nói riêng đối với cơ sở khám, chữa bệnh và các cơ sở y tế, đảm bảo chất thải được xử lý theo đúng quy định.

        Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký Quyết định số 577/QĐ-TTg ngày 11/4/2013 ban hành Đề án BVMT làng nghề với mục tiêu đến năm 2015, các làng nghề được công nhận phải đáp ứng các điều kiện về BVMT. Hệ thống thoát nước và nước thải tại các khu vực nông thôn được cải tạo, xây dựng; khu vực đô thị xây dựng hệ thống thoát nước tổng hợp gồm mạng lưới cống và nhà máy xử lý nước thải. Tính đến năm 2012, 17 hệ thống thoát nước và xử lý nước thải đô thị đã được xây dựng và 32 hệ thống thoát nước và xử lý nước thải đang trong quá trình thi công. 60% số hộ gia đình tại các đô thị đấu nối vào hệ thống thoát nước công cộng. Điều này đã và đang thúc đẩy quá trình phân loại nguồn thải giúp cho việc xử lý nước thải đạt hiệu quả cao.

     Nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” đã được áp dụng hiệu quả thông qua phí BVMT đối với nước thải, đây là một trong những công cụ kinh tế đầu tiên được áp dụng tại Việt Nam nhằm kiểm soát ô nhiễm nước. Từ năm 2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 về phí BVMT đối với nước thải. Ngày 29/3/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2013/NĐ-CP thay thế Nghị định số 67/2003/NĐ-CP để hoàn thiện và đơn giản hóa việc phân loại đối tượng và cách thức thu phí, góp phần tăng cường hiệu quả công tác thu, nộp, quản lý phí và tăng cường quản lý các nguồn thải thông qua phí BVMT đối với nước thải.

     Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt 3 Đề án BVMT lưu vực sông Cầu, sông Nhuệ - sông Đáy và hệ thống sông Đồng Nai để tập trung nguồn lực thực hiện nhằm giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường tại 3 lưu vực sông quan trọng trên phạm vi toàn quốc. Công tác quy hoạch BVMT lưu vực sông và quy hoạch khai thác, sử dụng, BVMT nước của các địa phương đã được chú trọng xây dựng và bước đầu tiến hành triển khai thực hiện. 22/22 tỉnh/thành phố trên 3 lưu vực sông đã xây dựng, phê duyệt và triển khai Đề án BVMT lưu vực sông. Tại một số địa phương như Bắc Giang, Quảng Bình, Long An, Cà Mau, Bạc Liêu... đã xây dựng quy hoạch khai thác, sử dụng và BVMT nước trên địa bàn.

Đặc biệt, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về BVMT không ngừng được tăng cường, tập trung tại các lưu vực sông, góp phần thay đổi nhận thức, hành vi về BVMT nước, phát hiện những tồn tại, bất cập trong văn bản quản lý và hệ thống quản lý để ngày càng hoàn thiện.

 

     Mạng lưới quan trắc môi trường nước mặt do Tổng cục Môi trường quản lý được thực hiện có hiệu quả trong thời gian qua. Hiện có 4/21 trạm quan trắc thực hiện chương trình quan trắc nước mặt hàng năm với tần suất 4 - 6 lần/năm.

THÁCH THỨC

 
Các quy định pháp lý

     Kiểm soát ô nhiễm là nội dung quan trọng trong quản lý nhà nước về BVMT, điều này được chứng minh từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn quản lý của Việt Nam. Tuy nhiên, đến nay chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào đưa ra định nghĩa, khái niệm, nội dung cũng như quy trình của kiểm soát ô nhiễm môi trường nước đầy đủ và thống nhất. Hơn nữa, công tác kiểm tra, phát hiện, theo dõi, xử lý, khắc phục các khu vực nước bị ô nhiễm, xác định thiệt hại về ô nhiễm môi trường nước chưa đầy đủ. Các quy định về kiểm soát ô nhiễm nước đối với lưu vực sông và biển ven bờ đã được quy định nhưng đối với các môi trường nước khác đang còn thiếu các quy định.

     Vấn đề quản lý các nguồn nước thải từ cơ sở sản xuất, kinh doanh còn nhiều bất cập. Theo quy định của Luật BVMT, mọi nguồn thải phải xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường trước khi xả vào môi trường tiếp nhận. Tuy nhiên, việc xác định môi trường tiếp nhận là môi trường xung quanh, hệ thống thoát nước hay hệ thống thủy lợi đang là vấn đề chồng chéo của các quy định hiện hành. Tại một số địa phương như Hà Nội, quy hoạch hệ thống tiêu thoát nước của TP. Hà Nội (do Sở Xây dựng chủ trì) theo quy định về thoát nước đô thị bao gồm các hệ thống sông Tô Lịch và Kim Ngưu. Như vậy, các cơ sở xả nước thải vào sông Tô Lịch sẽ áp dụng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường do Bộ TN&MT ban hành hay quy định xả nước thải vào hệ thống thoát nước do Bộ Xây dựng tham mưu cho Chính phủ ban hành. Nếu sông Tô Lịch là một hệ thống thoát nước, toàn bộ nước sông Tô Lịch phải được thu gom và xử lý trước khi chuyển sang sông Nhuệ - sông Đáy, nhưng thực tế không phải như vậy.

     Phân công trách nhiệm

     Theo Luật BVMT năm 2005, Bộ Công Thương được giao quản lý công tác BVMT tại các cơ sở công nghiệp, thương mại, khu công nghiệp, cụm công nghiệp; Bộ Y tế được giao quản lý công tác BVMT tại các cơ sở y tế; Bộ NN&PTNT chịu trách nhiệm quản lý việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm quản lý quy hoạch hệ thống thoát nước và xử lý nước thải. Có thể thấy, hiện nay có nhiều Bộ, ngành cùng tham gia vào quy trình kiểm soát ô nhiễm môi trường nước, nhưng thiếu một Bộ có trách nhiệm là đầu mối để thống nhất quản lý các hoạt động.

      Nguồn lực thực hiện

     Theo thống kê của Tổng cục Môi trường, cán bộ làm công tác BVMT là 2.600 người trên tổng số 90 triệu dân. Như vậy, mỗi công chức môi trường chịu trách nhiệm trước gần 35.000 người dân về các hoạt động BVMT, trong đó có kiểm soát ô nhiễm nước. Phần lớn, các cán bộ còn trẻ về tuổi đời và kinh nghiệm. Phòng Kiểm soát ô nhiễm tại các Chi cục BVMT thường có từ 3 - 5 cán bộ, đối với các địa phương lớn có thể lên đến 10 cán bộ; các phòng TN&MT cấp huyện ít về số lượng, hạn chế về chuyên môn và thường kiêm nhiệm nhiều công việc.

     Nguồn chi cho công tác kiểm soát ô nhiễm nói chung và kiểm soát ô nhiễm nước nói riêng từ ngân sách không được phân bổ thành mục chi riêng. Một trong những khoản thu vào ngân sách địa phương được quy định sử dụng cho kiểm soát ô nhiễm nước là phí BVMT đối với nước thải. Tuy nhiên, trong gần 8 năm qua, chưa địa phương nào thống kê và đánh giá được hiệu quả sử dụng khoản kinh phí này đối với môi trường nước.

     Công cụ phục vụ kiểm soát ô nhiễm

     Hiện nay, chưa có đủ căn cứ thẩm định/phê duyệt công nghệ sản xuất nhằm phòng ngừa ô nhiễm hoặc thẩm định công nghệ xử lý chất thải để kiểm soát ô nhiễm. Vì vậy, các cơ sở sản xuất tự lựa chọn đầu tư và xây dựng hệ thống xử lý chất thải và nếu để xảy ra ô nhiễm thì phải có biện pháp khắc phục trong giai đoạn vận hành. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp (nhiều công trình phải đập đi làm lại hoặc khắc phục trong nhiều năm).

     Tại các địa phương, hoạt động quan trắc còn yếu và thiếu các công cụ quản lý, đồng thời chưa có cơ chế xã hội hóa lĩnh vực này. Để kiểm soát các nguồn thải, theo dõi diễn biến chất lượng môi trường, nhiều địa phương phải thuê dịch vụ quan trắc từ các nơi khác (như ở Lai Châu thuê đơn vị dịch vụ từ Hà Nội), điều này vừa lãng phí về kinh phí và không đáp ứng được yêu cầu của công tác kiểm soát ô nhiễm.

     Sự tham gia của cộng đồng trong công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường đóng vai trò rất quan trọng. Trên thực tế, cộng đồng có vai trò giám sát các nguồn gây ô nhiễm. Tuy nhiên, trao quyền cho cộng đồng như thế nào, cũng như trách nhiệm của cộng đồng đến đâu thì vẫn chưa rõ ràng. Đến nay, có một thủ tục duy nhất là lấy ý kiến cộng đồng trong quá trình thẩm định ĐTM của cơ sở, nhưng trong quá trình hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, vai trò và trách nhiệm của cộng đồng chưa được quy định rõ.
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP

     Hoàn thiện khung pháp lý: Xây dựng các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật BVMT (sửa đổi) sau khi được Quốc hội thông qua và Chủ tịch nước phê chuẩn, trong đó tập trung làm rõ nội dung, quy trình, trách nhiệm các ngành trong lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm nước; Tiếp tục hoàn thiện hệ thống các Quy chuẩn kỹ thuật về môi trường nước, quy chuẩn xả thải phù hợp với các nhóm ngành đặc thù, phù hợp với khả năng tiếp nhận nước thải của từng lưu vực; Hoàn thiện và củng cố hệ thống các quy định về tài chính trong lĩnh vực kiểm soát ô nhiễm nước, đặc biệt là thông qua công cụ kinh tế về phí BVMT đối với nước thải.

     Hoàn thiện khung chính sách: Xác định các trọng tâm ưu tiên trong công tác kiểm soát ô nhiễm nước trên toàn quốc trong giai đoạn từ nay tới năm 2020 để đề xuất Thủ tướng Chính phủ những định hướng chiến lược mang tầm quốc gia và cho từng địa phương cụ thể; Xây dựng cơ chế, chính sách phối hợp giữa Nhà nước và người dân cũng như cơ chế khuyến khích đầu tư, xã hội hóa các hoạt động về kiểm soát ô nhiễm nước (đầu tư xử lý chất thải; xử lý các thủy vực bị ô nhiễm…).

     Tổ chức triển khai các giải pháp đồng bộ để quản lý các nguồn thải gây ô nhiễm môi trường, tập trung ưu tiên kiểm soát các nguồn thải lớn, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao: Thống kê, quản lý các nguồn thải; tăng cường các biện pháp giám sát tại nguồn đối với các nguồn thải lớn, nguồn thải có nguy cơ phát sinh hóa chất độc hại… bằng các biện pháp chuyên biệt (như quan trắc tự động liên tục, kế hoạch kiểm tra định kỳ, đột xuất, thiết lập đường dây nóng, xây dựng cơ chế giám sát dựa vào cộng đồng …); Rà soát, đánh giá, công bố các công nghệ xử lý nước thải, xử lý ô nhiễm môi trường nước phù hợp để các tổ chức, cá nhân lựa chọn, áp dụng.

     Đồng thời, tổ chức thực hiện các biện pháp phù hợp nhằm theo dõi diễn biến chất lượng môi trường nước các lưu vực sông, các lưu vực nước kín… Tăng cường kiểm soát ô nhiễm xuyên biên giới, trong đó tập trung quan trắc đối với các dòng sông xuyên biên giới, môi trường biển; Xây dựng kế hoạch, tăng cường năng lực nhằm chủ động trong phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả môi trường do sự cố thiên tai và nhân tạo gây ra đối với môi trường nước.

 

     Nâng cao năng lực thực thi công tác kiểm soát ô nhiễm nước ở cấp Trung ương và địa phương: Xây dựng cơ chế và nền tảng pháp lý, kỹ thuật cho việc tiếp nhận - xử lý thông tin về ô nhiễm môi trường nước dựa vào cộng đồng; Xây dựng đội ngũ “phản ứng nhanh” trong phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả ô nhiễm môi trường nước do sự cố thiên tai và nhân tạo; Đẩy mạnh việc áp dụng và chuyển giao các tiến bộ khoa học và công nghệ về theo dõi, phát hiện, ngăn chặn, xử lý, khắc phục ô nhiễm môi trường nước…

Theo Nguyễn Hoàng Ánh, Nguyễn Phan Thùy Linh, Trần Thé Loãn

Cục Kiểm soát ô nhiễm - Tổng cục Môi trường

Nguồn: Tạp chí Môi trường, số Chuyên đề kiểm soát ô nhiễm nước

tại Việt Nam - cơ hội và thách thức

Các bài liên quan

Liên minh Vận động Chính sách Ngăn ngừa và Kiểm soát Ô nhiễm nước
Phòng 501 – 502, Nhà E1, Khu ngoại giao đoàn Trung Tự Số 6, Đặng Văn Ngữ, Đống Đa, Hà Nội

Điện Thoại:043-9728 063/064
Website: http://ccw.vn
Copyright © 2013 Liên minh vận động chính sách và kiểm soát ô nhiễm nước - All right reserved