Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) với nội dung phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm nước

1. Quản lý chất lượng nước và nguồn thải ra môi trường nước
Quản lý chất lượng nước và nguồn thải ra môi trường nước được quy định tập trung tại Chương V: BVMT biển và hải đảo; Chương VI: Bảo vệ các thành phần môi trường, trong đó có Mục 1: BVMT nước sông và Mục 2: BVMT các nguồn nước khác. Các chương này gồm 10 điều từ Điều 55 đến Điều 64 quy định các nội dung về kiểm soát, đánh giá chất lượng nước; đánh giá khả năng tự làm sạch của sông; đánh giá sức chịu tải của các lưu vực sông; công khai thông tin về chất lượng nước sông; công bố các đoạn sông, dòng sông không còn khả năng tiếp nhận chất thải; khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường những dòng sông, đoạn sông bị ô nhiễm; kiểm soát, giảm thiểu và xử lý mọi nguồn thải vào lưu vực sông, biển và các nguồn nước khác; phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường trên biển và hải đảo; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc BVMT biển, hải đảo, BVMT nước sông và các nguồn nước khác…

Đối với nội dung quản lý môi trường nước, sự khác nhau căn bản giữa Luật BVMT (sửa đổi) với Luật BVMT 2005 thể hiện ở những quy định về BVMT nước sông. Nếu như Luật BVMT 2005 mới chỉ chú trọng đến các nguồn thải ra sông thì Luật BVMT (sửa đổi) không chỉ có những quy định chặt chẽ về nguồn thải ra sông mà còn có những quy định về chất lượng nước, khả năng chịu tải của sông, nguồn nước là nền tảng cho các quy định về phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm nước và cải thiện chất lượng nước. Đồng thời, Luật BVMT (sửa đổi) phân định trách nhiệm rõ ràng trong BVMT nước sông giữa UBND cấp tỉnh và Bộ TN&MT.

Tại Luật BVMT 2005, “sức chịu tải và khả năng tự làm sạch của dòng sông” chỉ được quy định mờ nhạt tại khoản 3, Điều 60 về kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường nước trong lưu vực sông với quy định áp dụng cho việc phát triển mới các khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đô thị, dân cư tập trung trong lưu vực sông. Trong khi đó, Luật BVMT (sửa đổi) quy định về chất lượng nước, đánh giá khả năng chịu tải của sông, nguồn nước tại tất cả các điều về BVMT nước sông (từ Điều 58 đến Điều 61) từ nguyên tắc quản lý, các nội dung kiểm soát và xử lý ô nhiễm nước đến các quy định về trách nhiệm của các cơ quan có liên quan với các quy định cụ thể: “Chất lượng nước sông, trầm tích phải được theo dõi, đánh giá; Mọi nguồn thải vào lưu vực sông phải được quản lý phù hợp với sức chịu tải của sông” (Điều 58); “Định kỳ quan trắc và đánh giá chất lượng nước sông và trầm tích; Quan trắc và đánh giá chất lượng môi trường nước, trầm tích sông xuyên biên giới và chia sẻ thông tin trên cơ sở luật pháp và thông lệ quốc tế; Điều tra, đánh giá sức chịu tải của sông; công bố các đoạn sông, dòng sông không còn khả năng tiếp nhận chất thải; xác định hạn ngạch xả nước thải vào sông” (Điều 59); UBND cấp tỉnh: “Tổ chức đánh giá sức chịu tải của sông; ban hành hạn ngạch xả nước thải vào sông; công bố thông tin về những đoạn sông không còn khả năng tiếp nhận chất thải” (Điều 60); Bộ TN&MT: “Đánh giá chất lượng môi trường nước, trầm tích các lưu vực sông liên tỉnh và xuyên biên giới; Điều tra, đánh giá sức chịu tải, xác định hạn ngạch xả nước thải, công bố thông tin của sông liên tỉnh; Ban hành và hướng dẫn việc đánh giá sức chịu tải của lưu vực sông, hạn ngạch xả nước thải vào sông liên tỉnh, khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường các dòng sông, đoạn sông bị ô nhiễm” (Điều 61).
     2. Quản lý nước thải
Các nội dung về quản lý nước thải được quy định tập trung tại Chương IX: Quản lý chất thải với Mục 4: Quản lý nước thải. Ngoài ra, các yêu cầu về xử lý nước thải còn nằm rải rác tại các chương về BVMT đối với các hoạt động cụ thể. Nội dung của các quy định này yêu cầu các loại nước thải phải được thu gom, xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ phải xử lý nước thải đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; xác định các đối tượng phải xây dựng và vận hành hệ thống xử lý nước thải; xác định trách nhiệm của UBND các cấp trong xử lý nước thải.

Luật BVMT (sửa đổi) quy định tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải thu gom và xử lý nước thải đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường (Điều 74); chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng cụm công nghiệp phải đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; Ban quản lý khu kinh doanh, dịch vụ tập trung phải đầu tư hệ thống thu gom nước thải (Điều 73); chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao phải bảo đảm đầu tư hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường và có hệ thống quan trắc nước thải tự động, liên tục; có thiết bị đo lưu lượng nước thải (Điều 72); UBND các cấp có trách nhiệm đầu tư xây dựng và tổ chức vận hành các công trình xử lý chất thải công cộng trên địa bàn (Điều 94); các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có quy mô xả thải lớn và có nguy cơ tác hại đến môi trường phải tổ chức quan trắc môi trường nước thải tự động và chuyển số liệu cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (Điều 107).

Cùng với các quy định đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, Luật BVMT (sửa đổi) cũng quy định các hoạt động cần thực hiện: Thu gom, xử lý nước thải đáp ứng yêu cầu BVMT bao gồm hoạt động thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản (Điều 44); sản xuất nông nghiệp (Điều 76); nuôi trồng thủy sản (Điều 77); y tế (Điều 78); xây dựng (Điều 79); lễ hội, du lịch (Điều 83); nghiên cứu, thử nghiệm (Điều 85). Bên cạnh đó, Luật BVMT (sửa đổi) cũng yêu cầu các hộ gia đình phải có trách nhiệm giảm thiểu, xử lý và xả nước thải sinh hoạt đúng nơi quy định (Điều 89) và khu mai táng, hỏa táng phải phù hợp với quy hoạch và không gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường xung quanh (Điều 90).
  
Điểm khác biệt căn bản của Luật BVMT (sửa đổi) so với Luật BVMT 2005 trong quản lý nước thải là Luật BVMT (sửa đổi) quy định rõ chủ thể chịu trách nhiệm trong xử lý nước thải với việc phân định rõ trách nhiệm của chủ đầu tư và chủ quản lý. Quy định này xác định rõ nội dung, phạm vi công việc của các chủ thể trong xử lý nước thải. Đồng thời, quy định cũng nhằm khắc phục tình trạng đổ lỗi trách nhiệm trong trường hợp xảy ra vi phạm về BVMT trong xử lý nước thải.

Bên cạnh đó, các quy định quan trắc nước thải tự động (Điều 72, Điều 107) được luật hóa từ thực tiễn quản lý sẽ góp phần khắc phục tình trạng sao chép, báo cáo không đúng số liệu và lẩn tránh trách nhiệm vận hành hệ thống xử lý chất thải của chủ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
     3. Các công cụ hỗ trợ quản lý ô nhiễm nước

Để thực hiện các hoạt động quản lý ô nhiễm nước, Luật BVMT (sửa đổi) quy định một số công cụ về quy chuẩn, quan trắc, hệ thống tài chính và các công cụ giám sát, đánh giá và xử lý vi phạm trong quản lý ô nhiễm nước.

Về Quy chuẩn kỹ thuật môi trường liên quan đến quản lý nước được quy định cụ thể từ Điều 119 đến Điều 127 với các nội dung:
 

  • Quy chuẩn kỹ thuật môi trường được xây dựng gồm nhóm quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng môi trường xung quanh với nhóm quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với nước mặt và nước dưới đất; nhóm quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với nước biển ven bờ; và quy chuẩn kỹ thuật về chất thải với nhóm quy chuẩn kỹ thuật về nước thải công nghiệp, dịch vụ, nước thải từ chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, nước thải sinh hoạt và hoạt động khác.
  • Trong quá trình xây dựng quy chuẩn, các quy chuẩn kỹ thuật về chất lượng môi trường xung quanh phải quy định giá trị giới hạn cho phép của các thông số môi trường phù hợp với mục đích sử dụng thành phần môi trường, bao gồm: Giá trị tối thiểu của các thông số môi trường bảo đảm sự sống và phát triển bình thường của con người, sinh vật; Giá trị tối đa cho phép của các thông số môi trường có hại để không gây ảnh hưởng xấu đến sự sống và phát triển bình thường của con người, sinh vật. Đối với quy chuẩn kỹ thuật về chất thải phải quy định cụ thể giá trị tối đa các thông số ô nhiễm của chất thải bảo đảm không gây hại cho con người, sinh vật với các thông số ô nhiễm của chất thải được xác định căn cứ vào tính chất độc hại, khối lượng chất thải phát sinh và sức chịu tải của môi trường tiếp nhận chất thải.

Về quan trắc môi trường: Các nội dung về quan trắc môi trường được quy định từ Điều 128 đến Điều 135 với các nội dung cơ bản xác định hoạt động quan trắc môi trường, hệ thống quan trắc, trách nhiệm quan trắc, thành phần cần quan trắc. Theo đó, các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm quan trắc môi trường nước gồm nước mặt lục địa, nước dưới đất, nước biển và quan trắc nước thải.

Về chi ngân sách nhà nước: Chi ngân sách sự nghiệp môi trường được chi cho việc tổ chức các hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường và quản lý chất thải; Ngân sách đầu tư phát triển được chi cho các hoạt động xây dựng, cải tạo các công trình xử lý chất thải do nhà nước quản lý; cải tạo các sông, hồ, ao, kênh, mương bị ô nhiễm thuộc khu vực công ích (Điều 156); Nhà nước ưu đãi, hỗ trợ đối với hoạt động xây dựng hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt (Điều 161).

Về xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường: Nguyên tắc xác định trách nhiệm cá nhân lần đầu tiên được đưa vào Luật BVMT (sửa đổi) (Điều 174) với các quy định xác định trách nhiệm của người đứng đầu trực tiếp của tổ chức, người đứng đầu cơ quan quản lý về BVMT, cơ quan quản lý tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường; tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm suy thoái môi trường; cá nhân thực hiện nhiệm vụ của tổ chức gây ô nhiễm môi trường… là căn cứ pháp lý cho việc quy trách nhiệm cá nhân trong trường hợp gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, thể hiện nguyên lý xuyên suốt trong hoạt động BVMT “người gây ô nhiễm phải trả tiền”.

Cùng với các công cụ hỗ trợ trực tiếp, các công cụ gián tiếp như đào tạo, truyền thông, công cụ kinh tế (phí BVMT, thuế môi trường), thanh tra, kiểm tra, xử lý hành chính, hình sự… được quy định tạo sự thống nhất, đồng bộ trong phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm nước, làm cơ sở cho việc thực thi các quy định về quản lý chất lượng nước và quản lý nước thải hướng tới việc sử dụng hiệu quả, tiết kiệm nguồn nước sạch, kiểm soát ô nhiễm, suy thoái nguồn nước.

Các quy định về phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm nước cùng với các quy định khác trong Luật BVMT (sửa đổi) đã cụ thể hóa nguyên tắc hiến định về bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành, góp phần thực hiện có hiệu quả Hiến pháp 2013- đạo luật gốc của đất nước.

Nguồn: Tạp chí môi trường

Các bài liên quan

Liên minh Vận động Chính sách Ngăn ngừa và Kiểm soát Ô nhiễm nước
Phòng 501 – 502, Nhà E1, Khu ngoại giao đoàn Trung Tự Số 6, Đặng Văn Ngữ, Đống Đa, Hà Nội

Điện Thoại:043-9728 063/064
Website: http://ccw.vn
Copyright © 2013 Liên minh vận động chính sách và kiểm soát ô nhiễm nước - All right reserved