Sự cần thiết xây dựng Luật Kiểm soát ô nhiễm nước - Nhìn từ góc độ chính sách |

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm nước như: chưa xử lý nước thải đạt chuẩn trước khi thải ra môi trường; thiếu ý thức trong BVMT nước của cộng đồng và các doanh nghiệp; tổ chức quản lý về môi trường nước chưa hiệu quả... Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân chính là do công cụ chính sách, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm (KSON) nước chưa đầy đủ và hiệu quả, hiệu lực thi hành trong thực tiễn chưa tốt.

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã xác định rõ, BVMT là một trong những vấn đề sống còn không chỉ của nước ta mà còn của cả nhân loại, là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với đấu tranh xóa đói, giảm nghèo ở mỗi quốc gia và cuộc đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ của xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Chính sách pháp luật của nhà nước về BVMT nói chung và BVMT nước nói riêng được xây dựng trên cơ sở nhất quán và vững chắc, thể hiện rõ nước là tài sản quốc gia quan trọng, là nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống, cần được bảo vệ bằng công cụ chính sách, pháp luật. Vấn đề KSON nước được quy phạm hóa trong một số văn bản đã ban hành như: Luật BVMT 2005 đã quy định nội dung quản lý chất lượng nước và BVMT nước sông bao gồm các vấn đề về nguyên tắc BVMT nước sông; quy định về kiểm soát, xử lý ô nhiễm, suy thoái môi trường nước lưu vực sông (LVS); trách nhiệm của UBND cấp tỉnh đối với BVMT LVS và quy định về tổ chức BVMT nước của LVS. Luật Tài nguyên nước sửa đổi năm 2012, trong đó quy định về phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt và ứng phó, khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước lưu vực sông; trách nhiệm, thẩm quyền quản lý nhà nước về LVS. Hay một số văn bản khác: Nghị định số 120/2008/NĐ-CP ngày 1/12/2008 về quản lý LVS; Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29/3/2013 về phí BVMT đối với nước thải; Nghị định số 142/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản; Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT; Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước...

Qua nghiên cứu nội dung các văn bản nói trên cho thấy, vấn đề KSON nước đã có quy định nhưng chưa đầy đủ, còn rải rác trong nhiều loại hình văn bản với hiệu lực pháp lý khác nhau, do các cơ quan có thẩm quyền khác nhau ban hành. Chưa có văn bản cụ thể chuyên biệt, quy định riêng về KSON nước, do đó, hiệu lực quản lý ô nhiễm nước chưa cao. Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến KSON nước chưa thực sự sát với tình hình thực tế, gây khó khăn khi thực thi. Ví dụ, nội dung “ngăn ngừa” chưa được quy định cụ thể, chi tiết trong các văn bản; nội dung “xử lý” thiếu hướng dẫn, quy định cụ thể về công nghệ xử lý... Một số quy định về KSON nước còn chung chung, chưa thể triển khai ngay trong thực tế và cần có hướng dẫn cụ thể. Điển hình như những quy định về cấp phép, xử phạt vi phạm hành chính đối với BVMT nước đã được ban hành, hướng dẫn cụ thể từ nhiều năm trước đây, nhưng do tổ chức bộ máy chưa hợp lý, nguồn lực hạn chế nên một số địa phương mới bắt đầu triển khai thực hiện. Do vậy, cần có văn bản Luật với tầm hiệu lực pháp lý cao, thống nhất, pháp điển hóa, hệ thống hóa các quy định về KSON nước trong các văn bản hiện hành. Trong lĩnh vực BVMT, bên cạnh Luật BVMT chung còn có các Luật liên quan đến các thành tố môi trường, như Luật Đất đai 2013, Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004, Luật Khoáng sản 2010, Luật Đa dạng sinh học 2008... Xét trong mối quan hệ đó, về tầm quan trọng của các thành tố môi trường thì nước cũng là đối tượng cần được pháp luật bảo vệ, thể hiện nhất quán sự quan tâm của Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay, Luật Tài nguyên nước 2012 đã điều chỉnh nước là một tài sản quốc gia cần được quản lý, sử dụng hiệu quả mà chưa đề cập sâu sắc, toàn diện đến BVMT nước, KSON môi trường nước. Do vậy, cần có Luật riêng quy định về KSON môi trường nước.
 
Trên thế giới, các nước đã quan tâm, BVMT nước hiệu quả do hệ thống pháp luật vững chắc, có tầm hiệu lực pháp lý, chủ yếu là ban hành các văn bản Luật. Tại Mỹ, Luật KSON nước liên bang Mỹ ban hành năm 1972, sau đó được sửa đổi, bổ sung năm 1977, 1987 và 2000. Đây được coi là Luật thành công nhất về BVMT của Mỹ. Luật quy định việc bảo vệ nước mặt, đối với việc bảo vệ nước ngầm thuộc về Luật nước uống an toàn và các luật khác. Mục tiêu của đạo luật này là phục hồi và duy trì sự toàn vẹn về vật lý và sinh học của các nguồn nước quốc gia. Bên cạnh đó, Luật đề ra các mục tiêu cụ thể và thời hạn để đạt được. Quá trình thực thi Luật đã từng bước hạn chế và kiểm soát được ô nhiễm các nguồn điểm và nguồn diện, nâng cao hiệu quả quản lý nước sạch của nhà nước, đồng thời nâng cao nhận thức người dân tham gia tự nguyện BVMT nước.

Tại Nhật Bản, Luật KSON nước chính thức được thông qua vào năm 1970, quy định các tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng nước, quy định cho các nhà máy và hệ thống kiểm soát tổng lượng chất ô nhiễm tại các ao hồ, sông suối, biển. Luật KSON nước của Nhật Bản điều chỉnh 3 vấn đề: Tiêu chuẩn chất lượng môi trường nước; Tiêu chuẩn và quy định phát thải; Kiểm soát tổng lượng chất ô nhiễm.

Tại Trung Quốc, Luật Phòng và KSON nước năm 1984 được ban hành và thực hiện với mục tiêu khắc phục tình trạng ô nhiễm nước nghiêm trọng và các “vấn đề ô nhiễm nước”. Sau đó, Luật đã được sửa đổi, bổ sung năm 1996 và 2008, trong đó Luật sửa đổi năm 2008 tập trung 4 nội dung mới: Quy định trách nhiệm BVMT nước của Chính quyền địa phương; tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong BVMT nước; hành vi gây ô nhiễm nước sẽ chịu hình thức phạt nặng; quy định kiểm soát tổng thải của các chất gây ô nhiễm cơ bản, hướng tới mô hình thương mại ô nhiễm nước.

Tại Philippin, Luật Nước sạch 2004 được ban hành với mục đích bảo vệ nguồn nước từ các nguồn thải trên đất liền (công nghiệp, thương mại, nông nghiệp, sinh hoạt); cung cấp chiến lược toàn diện và hợp nhất để ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm thông qua phương pháp tiếp cận đa ngành với sự tham gia của tất cả các bên liên quan. Luật khuyến khích chính quyền địa phương, cộng đồng dân cư và các khu vực tư nhân nỗ lực tham gia giảm thiểu ô nhiễm nước.

Trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay, vì môi trường là vấn đề chung nên pháp luật Việt Nam cần phải tương thích với pháp luật của các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước ASEAN. Kinh nghiệm BVMT nước của các nước rất hiệu quả, do đó cần nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm của các nước

Ngoài việc ban hành các văn bản pháp luật để KSON nước, Việt Nam cũng tham gia đàm phán và ký kết các văn bản quốc tế liên quan KSON nước, do vậy, vấn đề hợp tác quốc tế nhằm giải quyết các vấn đề xuyên biên giới về KSON, quản lý tổng hợp và sử dụng hợp lý tài nguyên nước, an ninh nguồn nước... là những vấn đề quan trọng.

Hiện nay, Việt Nam chưa có văn bản riêng, có tầm hiệu lực pháp lý cao quy định những nguyên tắc bao trùm, quan trọng, hệ thống các vấn đề về KSON nước. Do đó, nhận thấy việc xây dựng Luật KSON nước là cần thiết.
   
Để tạo tiền đề cho việc xây dựng Luật KSON nước, cần thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm:
  • Rà soát, đánh giá hệ thống văn bản pháp luật hiện hành liên quan đến KSON nước nhằm phát hiện những vướng mắc, bất cập trong hệ thống văn bản pháp luật liên quan KSON nước;
  • Khảo sát thực tiễn thi hành các văn bản quy phạm pháp luật về KSON nước đã ban hành trong thời gian qua;
  • Nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài trong việc xây dựng, ban hành và thực thi văn bản pháp luật liên quan KSON nước;
  • Đề xuất chương trình xây dựng Luật KSON nước vào Chương trình nghị sự của Quốc hội trong nhiệm kỳ tới;
  • Tổ chức nghiên cứu và soạn thảo Dự thảo Luật trình cơ quan có thẩm quyền.
 Nguồn: Tạp chí Môi trường

Các bài liên quan

Liên minh Vận động Chính sách Ngăn ngừa và Kiểm soát Ô nhiễm nước
Phòng 501 – 502, Nhà E1, Khu ngoại giao đoàn Trung Tự Số 6, Đặng Văn Ngữ, Đống Đa, Hà Nội

Điện Thoại:043-9728 063/064
Website: http://ccw.vn
Copyright © 2013 Liên minh vận động chính sách và kiểm soát ô nhiễm nước - All right reserved